Vietnamese (machine translation)

Lưu ý

Mục đích của file này là để độc giả tiếng Việt có thể đọc và hiểu tài liệu nhân kernel dễ dàng hơn, không phải để tạo ra một nhánh tài liệu riêng. Nếu bạn có bất kỳ nhận xét hoặc cập nhật nào cho file này, vui lòng thử cập nhật file tiếng Anh gốc trước. Nếu bạn thấy có sự khác biệt giữa bản dịch và bản gốc, hoặc có vấn đề về bản dịch, vui lòng gửi góp ý hoặc patch cho người dịch của file này, hoặc nhờ người bảo trì và người review tài liệu tiếng Việt giúp đỡ.

Bản gốc:

Memory Management

Người dịch:

Google Translate (machine translation)

Phiên bản gốc:

8541d8f725c6

Cảnh báo

Tài liệu này được dịch tự động bằng máy và chưa được review bởi người dịch. Nội dung có thể không chính xác hoặc khó hiểu ở một số chỗ. Khi có sự khác biệt với bản gốc, bản gốc luôn là chuẩn. Bản dịch chất lượng cao (được review) được đặt trong thư mục vi_VN/.

Quản lý bộ nhớ

Hệ thống con quản lý bộ nhớ Linux chịu trách nhiệm, như tên gọi của nó, để quản lý bộ nhớ trong hệ thống. Điều này bao gồm việc thực hiện bộ nhớ ảo và phân trang theo yêu cầu, phân bổ bộ nhớ cho cả kernel cấu trúc bên trong và các chương trình không gian người dùng, ánh xạ các tập tin vào xử lý không gian địa chỉ và nhiều thứ thú vị khác.

Quản lý bộ nhớ Linux là một hệ thống phức tạp với nhiều cấu hình cài đặt. Hầu hết các cài đặt này đều có sẵn thông qua ZZ0000ZZ hệ thống tập tin và có thể được truy vấn và điều chỉnh bằng ZZ0001ZZ. Các API này được mô tả trong Documentation for /proc/sys/vm/ và trong ZZ0002ZZ.

Quản lý bộ nhớ Linux có thuật ngữ riêng và nếu bạn chưa biết quen thuộc với nó, hãy cân nhắc việc đọc Concepts overview.

Ở đây chúng tôi ghi lại chi tiết cách tương tác với các cơ chế khác nhau trong quản lý bộ nhớ Linux.